Tiên Nhân Biến Mất Về Sau (Full Dịch)

Chương 40: Phần mộ của Chung Thắng Quang

Tôn Phù Bình đứng dậy: “Nếu như ta và Hạ quận thủ đã có cùng suy nghĩ, vậy chúng ta sẽ bắt đầu tìm kiếm từ manh mối này trước.”

“Tìm thế nào đây?” Niên Tùng Ngọc chau mày, “Ngài muốn cầu mưa ngay tại phế tích Bàn Long này sao?”

“Cầu mưa ở đây có tỷ lệ thành công chưa tới nửa phần, mà công sức bỏ ra lại gấp năm sáu lần bình thường.” Tôn Phù Bình cười gượng, “Vừa rồi ta đã thử triệu hoán sơn trạch xung quanh, nhưng không nhận được bất kỳ lời hồi đáp nào.”

Tại chốn hoang vu này mà đòi triệu hoán sơn trạch, quả thật là dồi dào trí tưởng tượng. Hạ Linh Xuyên thấy buồn cười: “Cái nơi này quá khô hạn, e là đến Thổ Địa công cũng bị chết khát luôn rồi.”

“Không cầu được mưa thì chúng ta dùng nước dội vậy, đội ngũ của nước Bạt Lăng năm xưa rất có thể cũng làm theo cách này.” Niên Tùng Ngọc suy nghĩ một lát, “Kéo mưa xuống cả tòa thành là chuyện bất khả thi và cũng không cần thiết, chúng ta buộc phải tìm chính xác nơi cần dội nước.”

Đội ngũ nước Bạt Lăng năm xưa hiển nhiên cũng không thể cầu được một trận mưa lớn bao phủ khắp toàn thành Bàn Long, họ chỉ có thể dùng lượng nước có hạn để dội vào những địa điểm tinh chuẩn nhất. Đã có tiền lệ thành công đi trước, nhóm người Tôn quốc sư chỉ cần dựa theo logic đó suy đoán ra là có thể ước chừng được phạm vi đại khái.

“Theo ta phân tích, những nơi mà khi dội nước mưa xuống có thể kích hoạt mùa Cuồng Sa chỉ quanh đi quẩn lại vài địa điểm: Thần miếu Di Thiên, từ đường Chung Thắng Quang, từ đường Hồng tướng quân, phần mộ của Chung Thắng Quang, cùng với loạn tán cương của thành Bàn Long.” Tôn Phù Bình bổ sung thêm một câu, “Hai tòa từ đường kia đều được xây dựng khi hai người họ còn sống trên đời, là trường hợp sinh từ cực kỳ hiếm thấy.”

Ai cũng biết rằng, chỉ có người đã khuất hoặc thần minh mới được hưởng hương hỏa cúng tế trong từ đường; nếu xây dựng sinh từ cho người còn sống, đó không phải là tôn kính mà là hại người, bởi vì người sống tám phần mười là không có phúc phận gánh nổi, nhẹ thì giảm thọ, nặng thì mất mạng ngay tức khắc. Hiển nhiên, Chung Thắng Quang và Hồng tướng quân là những ngoại lệ đặc biệt, họ là những nhân vật đã được thần thoại hóa ngay khi còn sống.

Hạ Linh Xuyên tò mò hỏi: “Tại sao lại không tính cả phần mộ của Hồng tướng quân ạ?”

Hạ Thuần Hoa giải thích cho hắn: “Hồng tướng quân không được chôn cất, mộ phần ở đây nhiều nhất cũng chỉ là một ngôi mộ chôn di vật hay y phục mà thôi, không có giá trị tìm kiếm.”

Niên Tùng Ngọc đặt câu hỏi: “Thế nhưng cho dù chúng ta tìm được những địa điểm này, làm sao xác định được cuối cùng nên dội nước ở vị trí nào?”

“Bản thân chúng ta thì chịu, nhưng Tam Thi Trùng thì biết.” Tôn Phù Bình sai thuộc hạ mang lên vài cái hũ lưu ly bịt kín, bên trong lờ mờ như có sương mù lượn lờ bao quanh.

Mọi người nheo mắt nhìn kỹ, thật là quá bất ngờ, sương mù gì chứ? Trong cái hũ lưu ly rõ ràng là bốn năm con Tam Thi Trùng đang không ngừng ngọ nguậy uốn éo! Chúng hoạt động cực kỳ hăng hái, hết con này đến con khác cứ liên tục húc đầu vào thành hũ, trông qua có vài phần tương tự như lũ lươn nuôi trong bể kính vậy.

“Chúng chỉ liên tục di chuyển về một hướng duy nhất, chính là hướng tránh xa nơi có Đại Phương Hồ.” Tôn Phù Bình giải thích, “Nói cách khác, hướng ngược lại với hướng chúng cố gắng di chuyển chính là vị trí của Đại Phương Hồ. Các ngươi chỉ cần cầm chiếc hũ thủy tinh này đi một vòng quanh các địa điểm mục tiêu, là có thể tìm ra được.”

Cái lão già này tâm cơ quả thực rất sâu, mọi chuyện đều lên kế hoạch tỉ mỉ chu toàn từ trước, nếu lão ta nảy sinh ý đồ xấu xa thì e rằng kế hoạch hại người của lão cũng sẽ vô cùng kín kẽ... Hạ Linh Xuyên len lén liếc nhìn lão một cái, trong lòng càng thêm phần cảnh giác.

Sau đó, mọi người lần lượt nhận lấy hũ lưu ly, chia nhau ra hành động.

…..

Phụ tử Hạ gia đương nhiên đi cùng một đường, tiến về phía phần mộ của Chung Thắng Quang.

Trong đêm tối gió lạnh bước đi giữa phế tích hoang tàn của một tòa thành cổ đại, cảm giác cô độc tiêu điều này lập tức dâng lên đỉnh điểm khi họ đứng trước phần mộ của Chung Thắng Quang.

Phần mộ của Chung Thắng Quang nằm ở góc phía Tây Bắc của quảng trường Nam môn mà họ đi qua đầu tiên, không ngờ lại là một công trình lăng mộ vô cùng to lớn kiên cố và uy nghi, toàn bộ đều được xây dựng từ đá Thanh Cương, rộng tới hai mẫu. Dựa vào địa thế xung quanh, người đứng ra chôn cất năm xưa đã đặc biệt phá dỡ đi rất nhiều nhà cửa và nông xá hai bên để dành không gian xây dựng ngôi mộ lớn này.

Tấm bia mộ ghi chép lại vô cùng giản lược: Mộ Chỉ huy sứ Tây La Chung Thắng Quang, bên cạnh là năm sinh năm mất.

Đã trôi qua hơn trăm năm, ngoại trừ những vết tích từng bị những kẻ săn bảo vật đến đào bới loang lổ ra thì toàn bộ lăng mộ vẫn nguyên vẹn như cũ, đến cả khối đá xanh xây mộ cũng không hề bị sứt mẻ một góc nào.

Phụ tử Hạ gia bước tới đây, đều không kìm được mà khẽ thở dài một tiếng.

Truyền thuyết về thành Bàn Long và Đại Phong Quân đã được kể lại hết năm này qua năm khác, lưu truyền không dứt tại thành Hắc Thủy. Thế nhưng có mấy ai có duyên được tận mắt tới đây bái tế vị tướng lĩnh truyền kỳ đã hy sinh oanh liệt vì đất nước này?

Hạ Linh Xuyên bùi ngùi cảm thán: “Kẻ thù năm xưa thế mà lại đứng ra xây dựng cho ông ấy một ngôi mộ to lớn như vậy.”

Chung Thắng Quang năm xưa tự vẫn ngay khi cổng thành sụp đổ, hoàn thành trọn vẹn lời thề “thành còn người còn, thành mất người mất” của mình. Về sau toàn bộ thành Bàn Long bị đồ sát dã man, hiển nhiên không còn bằng hữu hay thuộc hạ nào có thể chôn cất ông. Người đứng ra xây đắp phần mộ này, chỉ có thể là kẻ thù bên kia chiến tuyến.

“Nước Tiên Do làm vậy cũng chỉ vì bất đắc dĩ. Chung Thắng Quang sau khi chết bị chém đầu bêu gương, thủ cấp được gửi về kinh đô Tiên Do để lĩnh thưởng, toàn quốc tổ chức ăn mừng rầm rộ, vương cung thu giữ thủ cấp làm vật sưu tầm cất giấu. Thế nhưng kể từ đó trở đi, hoang nguyên Bàn Long liên tục xảy ra các hiện tượng tà dị quái đản, người và gia súc đều không thể sinh tồn, cỏ cây cũng héo úa chết sạch. Tiên Do vốn mưu cầu một hoang nguyên phì nhiêu khoáng sản dồi dào, chứ không cần một bãi sa mạc hoang vu cấm người sống bén mảng. Do đó họ đành phải phái người quay lại thành Bàn Long, tổ chức hậu táng long trọng cho Chung Thắng Quang, hy vọng trấn an được cơn thịnh nộ oán hận của oán hồn lẫm liệt.”

“Và kết quả là bọn họ đã thất bại.” Kết cục sau này của Tiên Do cùng sa mạc Bàn Long ra sao, hiển nhiên không cần phải nói thêm nữa.

Không biết Hạ Thuần Hoa lấy từ đâu ra hai nén hương rồi dùng mồi lửa châm lên, đưa một nén cho Hạ Linh Xuyên: “Vạn dặm xa xôi mới tới đây được một lần. Tế bái anh hồn liệt sĩ một chút vậy.”

Cả hai người mang vẻ mặt trang nghiêm kính cẩn bái lạy, Hạ Linh Xuyên lấy ra túi rượu sữa ngựa, lại lục lọi tìm lấy ba chiếc chén nhỏ rót đầy. Hai phụ tử Hạ gia giơ chén rượu hướng về phía tấm bia mộ kính cẩn mời, sau đó ngửa đầu cạn sạch.

Hạ Linh Xuyên nhẹ nhàng rưới dòng rượu xuống trước nấm mồ, lẩm bẩm khấn vái: “Chung Đại tướng quân, ngài dưới suối vàng linh thiêng hãy phù hộ độ trì cho chúng con có thể bình an ra vào sa mạc Bàn Long, có như vậy thì sau này chúng con mới có cơ hội quay lại dâng rượu kính tế ngài.”

Hạ Linh Xuyên cầm hũ lưu ly đi vòng quanh phần mộ của Chung Thắng Quang một lượt, nhưng lũ Tam Thi Trùng ở bên trong không hề bị đổi hướng di chuyển, chúng vẫn liên tục húc đầu điên cuồng về phía mặt Nam của thành hũ. Nói cách khác, ngôi lăng mộ lớn này không phải là mục tiêu dội nước của bọn họ.

Hắn đi một vòng quay lại, nhìn thấy Hạ Thuần Hoa đang trầm ngâm suy tư: “Phụ thân, người đang nghĩ cái gì thế?”

“Ta đang nghĩ, nếu như chúng ta thực sự tìm ra Đại Phương Hồ và mang nó dâng lên chiến trường, liệu mùa Cuồng Sa của sa mạc Bàn Long này có trở thành dĩ vãng, biến mất vĩnh viễn không?”

“Chắc chắn rồi ạ. Chuyện này chẳng phải là điều vô cùng tốt sao? Hoang nguyên Bàn Long nhìn qua thì cằn cỗi hoang vu, nhưng thực chất sản vật dưới lòng đất cực kỳ phì nhiêu dồi dào, bằng không năm xưa liên quân địch quốc cũng chẳng điên cuồng vây đánh thành Bàn Long làm gì. Nếu như sa mạc này mở rộng đường thông suốt không cản trở hành khách nữa, quận Thiên Tùng của chúng ta há phải nghèo nàn xơ xác như thế này.” Nói tới đây, thấy vẻ mặt ưu tư của Hạ Thuần Hoa, Hạ Linh Xuyên chợt ngẩn ra hỏi: “Sao thế, con nói gì sai ạ?”

“Con nói đều đúng cả, nhưng ta lại thấy sa mạc Bàn Long duy trì nguyên dạng hoang vu như thế này mới là tốt nhất.”

Hạ Linh Xuyên ngạc nhiên hỏi: “Tại sao ạ?” Có ai lại muốn trông giữ một vùng sa mạc cằn cỗi mưa nắng thất thường cơ chứ?

“Sa mạc Bàn Long đúng là chướng ngại, là đại họa, là nguy cơ khó lường, thế nhưng nó cũng là một tấm lá chắn bảo hộ kiên cố nhất. Vương triều Đại Diên nay đã suy yếu không bằng thời kỳ hưng thịnh năm xưa, nếu như tháo dỡ đi lớp bình phong che chở tự nhiên này, hậu quả vô cùng khó lường.”

“Sa mạc Bàn Long thì có thể làm bình phong lá chắn bảo hộ gì chứ?” Hạ Linh Xuyên thầm khâm phục mưu tính sâu xa tỉ mỉ của Hạ quận thủ, ngoài mặt thì cười nói: “Nếu như tìm được cái bình kia mang về lập công, cả nhà chúng ta sẽ được ban thưởng chuyển thẳng vào kinh đô sinh sống, ai mà thèm bận tâm đến cái chốn sa mạc Bàn Long quỷ quái này nữa? Nơi này có giông bão hay ngập cát lụt lội thế nào thì cũng chẳng liên quan gì đến chúng ta cả.”

Những lời phát biểu vô lo vô nghĩ này quả thực rất phù hợp với tính cách phế vật trước đây của nguyên thân Hạ Linh Xuyên, Hạ quận thủ nhìn hắn khẽ mỉm cười: “Vi quan chi đạo*, con nhìn nhận quả thực rất thấu đáo.”

(*Lối ứng xử khi làm quan.)

Bất kể là đi hay ở, thăng tiến hay luân chuyển quan chức, mọi rắc rối phát sinh sau này đều sẽ do quan phủ địa phương nhiệm kỳ tiếp theo tự gánh chịu, ông vỗ mông phủi áo rời đi là xong việc. Đúng như đứa con trưởng của ông vừa nói, tội gì phải bận tâm lo lắng cho người khác?

Trời có sập xuống thì tự khắc sẽ có kẻ cao hơn đứng ra chống đỡ.

Thật ra Hạ Linh Xuyên vừa nghe qua là hiểu ngay. Sa mạc Bàn Long này chính là vùng đệm làm trung gian giữa các thế lực thù địch lớn với nhau. Bất kỳ quốc gia nào muốn vượt qua sa mạc hiểm trở này để tấn công Diên Quốc đều sẽ gặp khó khăn, chưa kể mùa Cuồng Sa kéo dài suốt nửa năm gần như là ác mộng kinh hoàng của mọi đại quân viễn chinh, trong khoảng thời gian này trừ phi lực lượng xâm lược áp dụng chiến thuật lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, vơ vét cướp bóc được đầy đủ vật tư của những nơi chiếm đóng để nuôi sống đại quân, bằng không tuyến đường tiếp tế hậu cần cho quân sĩ của kẻ thù chắc chắn sẽ bị cắt đứt hoàn toàn.