Chương 36: Đã có người đi trước
Hạ Thuần Hoa cũng bổ sung: “Ta xem thư tịch cổ thấy có nhắc tới việc cao nguyên Xích Phách là Song Điệp Nguyên, tức là hai tầng bình nguyên chồng lên nhau, tầng thứ hai cao hơn tầng thứ nhất. Thành cổ Bàn Long nằm ở tầng thứ hai đất đai phì nhiêu, lại đón nhận nước tuyết tan từ trên núi cao chảy xuống, mạng lưới sông ngòi chằng chịt, quả thực là vùng sông nước cao nguyên hiếm hoi trên khắp hoang nguyên Bàn Long!”
Điều này cũng là hiển nhiên, nếu không có nguồn nước dồi dào quanh năm không dứt, thành Bàn Long chắc chắn không thể tồn tại được.
“Bây giờ đi thế nào?” Niên Tùng Ngọc hỏi Quốc sư, “Trời sắp tối rồi.”
Chỉ còn khoảng hai khắc nữa là mặt trời sẽ lặn. Ánh sáng trong thành cổ đang tối đi rất nhanh.
“Trước tiên dựng đại bản doanh, thiết lập phù trận phòng ngự.” Tôn Phù Bình đã có dự tính từ trước, “Tất cả mọi người tản đi tìm vị trí thích hợp đi.”
“Tản đi?” Hạ Linh Xuyên vội hô ngừng lại, “Phế tích to lớn thế này, đến hiểm họa còn chưa kịp bài trừ!”
“Không cần lo.” Tôn Phù Bình tỏ vẻ ung dung tự tin, “Ít nhất thì khu vực ngoại vi thành trì tương đối an toàn. Chắc không phải ngươi đang nghĩ rằng chúng ta là nhóm người đầu tiên tiến vào thành Bàn Long trong suốt hơn trăm năm qua đấy chứ?”
Hắn nghĩ như vậy thật đấy, chẳng lẽ ngây thơ quá sao? Hạ Linh Xuyên cười lớn: “Thì ra đã đã có người đi trước, đáng tiếc đều tay trắng trở về.”
Nếu như người ta tìm được bảo vật rồi, bọn họ còn đến thành Bàn Long làm gì nữa?
“Chưa chắc, họ chưa hẳn tới đây vì Đại Phương Hồ. Những phế tích thế này thường xuyên thu hút thợ săn kho báu. Họ cũng ghi chép lại những điều mắt thấy tai nghe ở nơi này, có thể làm tài liệu tham khảo cho chúng ta.” Tuy rằng sinh vật biến dị cùng Tam Thi Trùng trong sa mạc Bàn Long vô cùng đáng sợ, nhưng thành thật mà nói, chỉ cần chuẩn bị kỹ càng từ trước thì đều không phải là những nan đề không thể giải quyết.
Cho nên phế tích Bàn Long từ lâu đã có khách ghé thăm, ai nấy đều ôm mưu tính riêng mà đến, giống hệt như bọn họ hiện tại vậy.
……
Hơn hai trăm con người tìm kiếm chốc lát, liền chọn được một khoảng đất trống để dừng chân. Nơi này tựa hồ từng là khu chợ của thành Bàn Long, men theo dòng kênh là hai dãy kiến trúc san sát nhau, cao nhất không quá hai tầng lầu. Đa số mặt tiền của các ngôi nhà đều đã bị tàn phá, ít nhất một phần ba từng chịu vết tích cháy sập của hỏa hoạn, nhưng vẫn có vài nhà còn treo bảng hiệu, trong đó tấm bảng nguyên vẹn nhất thì chữ viết cũng đã mờ mịt. Chữ viết có đôi chút khác biệt so với ngày nay, Hạ Linh Xuyên phải tốn chút công sức mới miễn cưỡng nhận ra được hai chữ: “Sương... Tửu”, đại khái là một tửu quán.
Những ngôi nhà ở đây vừa thấp vừa nhỏ, lại xây san sát nhau nên rất phù hợp để làm trại đóng quân tạm thời. Đội ngũ vừa hạ trại, Tôn Phù Bình liền hạ lệnh dừng chân chỉnh đốn trong hai canh giờ, Tăng Phi Hùng cũng vội vàng đi phân chia phòng ốc. Mấy vị thủ lĩnh chiếm lấy nơi có tầm nhìn và chắn gió nhất là tửu quán kia, bắt đầu bàn bạc kỹ lưỡng. Bôn ba suốt hai ngày trời, mọi người lúc này mới rảnh tay rửa mặt, tỉnh táo lại đầu óc.
Tại sa mạc nơi nước quý như vàng, đây hiển nhiên là đặc quyền chỉ dành cho thủ lĩnh.. Hạ Linh Xuyên giơ túi nước lên nốc ừng ực mấy ngụm lớn, rồi dội chỗ nước còn lại lên mặt: “Cái nơi quỷ quái này, ban ngày nóng muốn chết, còn ban đêm thì lạnh điên lên được!”
Khí hậu đặc trưng của vùng hoang mạc chính là chênh lệch nhiệt độ ngày đêm cực lớn. Giữa trưa có thể lên tới hơn bốn mươi độ, nhưng hễ đêm xuống là sương giá lập tức ngưng kết. Mặt trời vừa khuất bóng, nhiệt độ liền lao dốc không phanh. Mọi người dù đã khoác thêm áo bông vẫn thấy không đủ ấm, đành phải rủ nhau đi tháo dỡ gỗ khắp nơi để đốt lửa sưởi ấm.
Động tác lắc đầu của hắn hệt như con chó đang giũ nước trên người, Niên Tùng Ngọc cau mày, vừa nghiêng người né tránh vừa càu nhàu:
“Thời gian quý báu, ban đêm cũng không được lãng phí. Nhưng mảnh phế tích này quá lớn, cho dù chúng ta phân tán nhân lực ra thì ít nhất cũng phải tìm kiếm trong vài ngày. Quốc sư có biện pháp gì chăng?”
Họ không phải tới đây để dã ngoại, lương thực và nước uống mang theo rất có hạn, tốt nhất là tận dụng từng phút từng giây.
Sau khi phủi sạch cát vàng và chỉnh đốn lại trang phục, Tôn Phù Bình liền khôi phục lại phong thái ung dung của một vị Quốc sư, lúc này liền cất giọng trầm ổn:
“Những chuyện như lục lọi ngóc ngách, đào sâu ba thước đất, liên quân Bạt Lăng – Tiên Do năm xưa cùng đám người săn bảo vật sau này đều đã làm qua cả rồi, chúng ta có lùng sục cũng chẳng thể kỹ hơn họ được. Bởi thế cho nên, đống lầu xá nhà dân trong thành này hầu như không còn giá trị tìm kiếm nữa.”
Thành Bàn Long năm xưa sau khi bị công phá đã phải hứng chịu thảm cảnh đồ sát, bất kể người hay gia súc đều bị giết sạch, của cải bị vơ vét không còn thứ gì. Nước địch đã phải tốn hơn ba mươi năm mới hạ bệ được nó, nên đã hận cái gai trong mắt này tận xương tủy, nếu không vơ vét cướp bóc thỏa thuê vài lần thì làm sao nuốt trôi được cục tức này.
Hơn nữa bọn họ có thừa thời gian, e rằng ngay cả đến ba tấc đất cũng đã bị quét sạch, thế nhưng Đại Phương Hồ vẫn chưa từng được tìm ra. Điều này chứng tỏ từ phủ đệ sang trọng cho đến nhà dân bình thường đều không phải là nơi cất giấu nó.
Nghe xong câu này, Hạ Linh Xuyên thở phào nhẹ nhõm: “Thế thì tốt.” Bằng không nhân thủ bên họ quá ít, thành Bàn Long lại quá lớn, tìm kiếm chẳng khác nào mò kim đáy bể. “Nói như vậy tức là Quốc sư đã biết nó nằm ở đâu rồi?”
Những người đi trước đều đã thất bại trở về, Tôn Phù Bình nếu không nắm chắc mười phần trong tay thì sao có thể lặn lội ngàn dặm xa xôi đến chốn này để ăn cát?
“Không biết vị trí chính xác, nhưng có thể thu hẹp phạm vi.” Tôn Phù Bình trầm ngâm một lát rồi tiếp lời, “Ta từng bái phỏng Tổ sư Chúc Tuyên của nước Bạt Lăng, ông ấy từng bốn lần ghé thăm thành Bàn Long, lần đầu cách đây sáu mươi năm, lần gần nhất là bốn mươi năm trước. Có thể nói, ông ấy có lẽ là thế lực tìm kiếm phế tích Bàn Long triệt để nhất kể từ sau thời liên quân.”
“Thế lực?” Hạ Thuần Hoa bắt được từ ngữ mấu chốt.
“Theo ta thấy, nước Bạt Lăng vẫn luôn có chút hoài nghi đối với phế tích Bàn Long. Bản thân tổ sư Chúc Tuyên cũng vô cùng say mê nơi này, lần cuối cùng ông ấy tới đây khảo sát là khi đã bảy mươi lăm tuổi, thời gian ở lại cũng là dài nhất, trước sau tròn mười lăm ngày, số lượng người mang theo cũng đông nhất, nghe nói có tới hơn ngàn người.”
Người càng đông, thời gian ở lại càng dài thì việc tìm kiếm thành Bàn Long lại càng thêm tỉ mỉ. Chỉ là không biết làm thế nào họ bảo đảm được việc cung cấp hậu cần cho ngần ấy con người. Quả nhiên kiểu khai quật quy mô lớn thế này đều cần có sự hỗ trợ của quan phủ và quân đội.
Mọi người nghe vậy cũng hiểu ra, liên quân năm xưa cùng tổ sư Chúc Tuyên đã sớm làm thay họ công việc rà soát, việc tìm kiếm theo kiểu trải thảm là không cần thiết nữa.
“Gần một ngàn con người mà đều bình an vô sự, không gặp phải bất kỳ tai nạn nào sao?” Hạ Linh Xuyên xen vào, “Bản thân việc này đã rất bất bình thường rồi.”
Hạ Thuần Hoa chợt lên tiếng: “Trời đã tối đen, nhưng ta vẫn chưa thấy bóng dáng một con Tam Thi Trùng nào cả.”
Hiện giờ ông vẫn nhìn thấy ba ngọn lửa trên người người khác, rõ ràng là dược lực của Đỗ Hồn Tán vẫn chưa tiêu tan. Trạng thái này tương đương với cái gọi là “khai thiên nhãn” trong dân gian, cũng có thể nhìn thấy được Tam Thi Trùng. Thế nhưng từ lúc bước lên cầu cho đến khi vào thành, ông lại chưa phát hiện nổi một con Tam Thi Trùng nào. Điều này đã vô cùng kỳ quái rồi phải không?
“Đúng vậy, trong thành không chỉ không có Tam Thi Trùng, mà ngay cả các loại tà ma ngoại đạo khác cũng không hề tồn tại. Đây là nhận định chung của những kẻ săn bảo vật trước kia, thế nên chúng ta ở chỗ này, chỉ cần không gây ra động tĩnh gì quá lớn thì sẽ được an toàn.” Tôn Phù Bình lấy ra một chiếc bánh nang hành quân rồi hơ trên đống lửa để nướng.
Bánh nang hành quân được làm từ bột không men, to như cái thau rửa mặt, rơi xuống đất phát ra một tiếng “cạch”, cực kỳ rắn chắc. Ưu điểm duy nhất của nó là no lâu và khó hỏng, dù có nướng mềm ra thì Hạ Linh Xuyên vẫn thấy chiếc bánh này vừa thô ráp lại vừa đắng chát, nuốt bừa vào cổ họng còn thấy đau rát. Hắn chỉ có thể ngâm nước nóng để ăn, trong khi Tôn Phù Bình lại bẻ thành từng miếng nhỏ, nhai ngấu nghiến mà sắc mặt không hề thay đổi.
Vị Quốc sư này quả thực rất bình dân, cẩm y ngọc thực hưởng được, mà trà thô bánh hèn cũng nuốt trôi.
“Tài liệu ta thu thập được đa phần là lấy từ chỗ Chúc Tuyên. Ông ấy đã nghiên cứu suốt nửa đời người rồi đích thân nói với ta rằng, Đại Phương Hồ chưa từng được ai tìm thấy, rất có thể là vì tất cả mọi người đều đã đến sai thời điểm.”