Chương 12: Chuyện cũ Bàn Long
Ải Ngọa Lăng dễ thủ khó công, hiện tại phản quân đang là bên phòng thủ.
Hạ Thuần Hoa nghiêm nét mặt, hỏi: “Hạ quan có thể làm được gì?”
Miền trung Diên Quốc xảy ra biến cố động trời như vậy, quốc vận trong tình thế nghìn cân treo sợi tóc, thất phu còn có trách nhiệm, huống chi ông là một quan viên đường đường chính chính? Lúc này mà còn đùn đẩy né tránh thì thật không phải đạo.
Vừa vặn có gia nhân vào dâng trà mới, Tôn Phù Bình nhấp một ngụm trà nóng, hỏi một câu có vẻ chẳng liên quan: “Hạ đại nhân ở quận Thiên Tùng nhiều năm, có biết vì sao vùng hoang nguyên trước kia lại biến thành sa mạc Bàn Long, và lai lịch của thương lộ Hồng Nhai kia không?”
Sao lại hỏi chuyện này? Hạ Thuần Hoa nhíu mày: “Đây là chuyện xưa của địa phương. Khoảng một trăm năm mươi năm trước khi Đại Diên lập quốc, mảnh đất chúng ta đang đứng thuộc về Tây La. Khi đó sa mạc Bàn Long vẫn chưa phải là hoang mạc, tuy mưa hơi ít nhưng vẫn có rừng cây và những con sông chảy theo mùa*. Ừm, thời kỳ Tây La thịnh vượng nhất, họ đã xây dựng bốn quận mười hai thành ở biên giới phía tây để trấn giữ con đường huyết mạch giao thương tấp nập xuyên suốt đông tây này, tòa thành lớn nhất chính là thành Bàn Long.
(*Sông theo mùa là những con sông phần lớn thời gian trong năm đều khô cạn, chỉ hình thành dòng chảy trong thời gian ngắn vào mùa mưa hoặc thời kỳ băng tuyết tan chảy. Chúng chủ yếu phân bố ở các khu vực khô hạn và bán khô hạn, với lưu lượng nước cực kỳ thất thường.)
Về sau Tây La dần suy yếu, đối ngoại liên tục thất bại. Hai nước Bạt Lăng và Tiên Do tranh nhau xâu xé lãnh thổ của họ, ngoại trừ hoang nguyên Bàn Long vẫn ngoan cường chống giữ, toàn bộ biên giới phía tây của Tây La đều bị chiếm đóng. Hoang nguyên Bàn Long cũng vì thế mà trở thành một vùng đất cô độc, nằm ngoài bờ cõi Tây La, cách xa tổ quốc hàng ngàn dặm.”
Hạ Linh Xuyên cũng im lặng lắng nghe đoạn lịch sử này. Lai lịch của sa mạc Bàn Long thì người dân thành Hắc Thủy ai ai cũng từng nghe qua, thân xác này của hắn cũng không ngoại lệ.
“Hai nước Bạt Lăng và Tiên Do tấn công hoang nguyên Bàn Long suốt ba mươi hai năm, vậy mà quân phòng thủ Tây La dưới sự dẫn dắt của Chỉ huy sứ thành Bàn Long là Chung Thắng Quang cũng kiên trì thủ vững suốt ba mươi hai năm, một tấc đất cũng không nhường!” Hạ Thuần Hoa quay sang hỏi trưởng tử: “Linh Xuyên, con có nhớ tên của đội quân này không?”
“Đại Phong Quân!” Hạ Linh Xuyên gật đầu, “Kiên nhẫn do thắng hồ dương, cô trung nan thù tráng chí*, chính là đang nói về Đại Phong Quân bị vây hãm nơi hậu phương địch!”
(*Kiên cường hơn cả cây hồ dương, lòng trung son sắt khó thỏa chí lớn.)
Đại Phong Quân bị hai cường địch vây khốn, lại bị cắt đứt liên lạc với tổ quốc, lương thực nước uống cạn kiệt, không nhận được một chút viện trợ nào từ Tây La.
Vậy mà họ vẫn kiên cường chống giữ suốt ba mươi hai năm ròng rã. Truyền thuyết như thế này, nghe bao nhiêu lần cũng không chán.
“Vào năm thứ mười hai thành Bàn Long bị vây hãm, Tiên Do và Tây La tạm thời giảng hòa, Đại Phong Quân nhân cơ hội đó truyền tin về tổ quốc. Quốc quân Tây La không ngờ thành Bàn Long vẫn vững vàng, liền hạ chỉ khen ngợi, đồng thời điều động phần lớn tinh nhuệ của Đại Phong Quân về nước để trấn áp bạo loạn.” Thấy phụ thân không nói gì thêm, Hạ Linh Xuyên dứt khoát kể tiếp, “Nhưng chẳng bao lâu sau, Tiên Do lại trở mặt với Tây La, đường giao thông giữa hoang nguyên Bàn Long và bản quốc lại bị cắt đứt, Đại Phong Quân một lần nữa rơi vào cảnh khốn cùng.
Từ đó về sau, Tây La chiến tranh liên miên, không còn tâm trí đâu mà ngó ngàng phía tây nữa. Đại Phong Quân trong tình cảnh cô lập không viện trợ, lực lượng tinh nhuệ gần như mất sạch, vậy mà vẫn kiên trì thêm hai mươi năm.”
Ý chí của quân đội này đã không thể dùng từ “sắt đá” để hình dung nữa rồi. Chỉ tiếc là đất nước quá suy nhược, uổng phí những tướng sĩ trung trinh như vậy.
“Nước không xứng với sĩ.”, Hạ Linh Xuyên cảm thấy cụm từ này đặc biệt chuẩn xác.
“Nói rất hay.” Niên Tùng Ngọc vỗ tay hai cái tán thưởng, “Nhưng vì sao hoang nguyên lại biến thành sa mạc?”
“Đại Phong Quân đến chết không hàng, chiến đấu đến người cuối cùng. Thành Bàn Long cũng bị quân địch tàn sát để hả giận, không chừa một ai.” Đây cũng là tình tiết kinh điển nhất của các thuyết thư trong trà quán, “Những trận chiến ấy quá mức thảm khốc, oán khí và nộ hỏa của anh hồn xông thẳng lên chín tầng mây, thấm sâu vào lòng đất, khiến cho sinh cơ trong vòng trăm dặm quanh thành Bàn Long bị cắt đứt hoàn toàn, sông ngòi đổi dòng, thế là hoang nguyên dần dần biến thành sa mạc.
Còn có một cách nói khác. Bản thân Chỉ huy sứ thành Bàn Long là Chung Thắng Quang vốn là một thuật sư vô cùng mạnh mẽ. Ông biết một cây làm chẳng nên non, nên vào khoảnh khắc thành vỡ đã tập hợp sức mạnh của hàng vạn anh hồn để hạ lời nguyền lên mảnh đất này, biến nó thành vùng đất cằn cỗi không một ngọn cỏ.” Hạ Linh Xuyên nhún vai, “Như vậy, Tây La tuy không giữ được đất Bàn Long, nhưng hai nước Bạt Lăng và Tiên Do cũng đừng hòng chiếm được. Trên thực tế, hiện tại vùng sa mạc này quả thật không thuộc về bất kỳ quốc gia nào.”
“Còn gì nữa không?”
“Nhưng Chung Thắng Quang cũng để lại một con đường sống cho các sinh vật ra vào sa mạc, chính là thương lộ Hồng Nhai. Đó cũng là lộ trình mà Đại Phong Quân từng đi qua trước kia.” Hạ Linh Xuyên nhìn Niên Tùng Ngọc, nói: “Vẫn còn rất nhiều chi tiết nhỏ khác. Nếu Niên đô úy muốn nghe tiếp, tốt nhất chúng ta nên khai tiệc, vừa ăn vừa nói.”
Quốc sư Tôn Phù Bình hỏi Hạ Thuần Hoa: “Những gì Hạ đại nhân biết cũng chỉ bấy nhiêu sao?”
“Cũng hòm hòm như vậy.” Hạ Thuần Hoa nghe ra điều bất thường, “Ý của Quốc sư là...?”
Ngươi đừng úp úp mở mở nữa.
“Đại Phong Quân là cương thiết chi sư không sai, Chỉ huy sứ Chung Thắng Quang là một cường giả cũng không sai, nhưng sau khi lực lượng tinh nhuệ cốt cán bị điều động về nước, Đại Phong Quân lấy cái gì để cô độc thủ vững suốt hai mươi năm? Khi đó, quân đội Tiên Do đã có thể càn quét hơn nửa Tây La, cho dù Tây La vẫn còn danh tướng cũng không thể chống đỡ nổi.” Tôn quốc sư nhàn nhạt nói, “Ta và ông đều hiểu rõ, chuyện này chỉ dựa vào một bầu nhiệt huyết nóng bỏng là không thể nào làm được.”
Thắng bại của chiến tranh chỉ quyết định bởi mạnh yếu. Sự thật tàn khốc nhất chính là, kẻ yếu dù có nhiệt huyết đến đâu cũng không thể thoát khỏi số mệnh bại vong.
Kẻ địch mạnh mẽ như thế, đặc biệt là nước Tiên Do binh hùng tướng mạnh, đã phát động hơn ba trăm cuộc tấn công vào thành Bàn Long. Lúc dồn dập nhất, một tháng có tới mười lăm lần.
Một Đại Phong Quân thiếu ăn thiếu nước, thiếu người thiếu vũ khí, lấy cái gì để kiên trì đến cùng?
Đối với câu hỏi này, Hạ Thuần Hoa chỉ có thể đáp: “Sử liệu thiếu thốn, không cách nào phán đoán.”
Dù có oanh oanh liệt liệt đến đâu thì đó cũng là chuyện của hơn trăm năm trước. Người đời sau có thể cảm thán thở dài, nhưng có mấy ai thực sự muốn đi sâu vào tìm hiểu?
Ít nhất Hạ Thuần Hoa thì không, ông còn có những việc quan trọng hơn phải làm.
“Tôn quốc sư, chuyện cũ của sa mạc Bàn Long rốt cuộc có liên quan gì đến tình cảnh khốn cùng hiện tại của Đại Diên chúng ta?” Hai người này chắc chắn không thể ngàn dặm xa xôi chạy tới đây chỉ để nghe ông kể chuyện xưa.
Phần kịch tính nhất đã đến. Tôn Phù Bình đứng dậy, bước tới hai bước, nhìn chằm chằm vào mắt ông, nói: “Đây chính là điều ta muốn nói. Chìa khóa giúp Đại Phong Quân kiên trì đến cùng, biết đâu cũng chính là mấu chốt để chúng ta xoay chuyển chiến cục ải Ngọa Lăng, giải trừ hiểm họa cho quốc đô! Hạ quận thủ, lần này ông không thể thoái thác trách nhiệm đâu!”
Sắc mặt Hạ Thuần Hoa nghiêm nghị: “Hạ quan xin rửa tai lắng nghe.”
Còn Hạ Linh Xuyên thì cảm thấy đối phương cuối cùng cũng lộ ra đuôi cáo, nhưng trước đó lại vứt cho một trách nhiệm quá lớn, không biết phụ thân có đỡ nổi hay không.
“Chủ bộ trong Đại Phong Quân là Hà Giản đã đi theo Chung Thắng Quang nhiều năm, trước khi thành vỡ thì lâm bệnh qua đời. Sau khi Tiên Do đánh hạ thành Bàn Long, lúc kiểm kê di vật của ông ta đã phát hiện ông ta có ghi chép tóm tắt về đoạn lịch sử này.Bản ghi chép của Hà Giản được lưu truyền lại, trải qua nhiều lần trôi nổi, cuối cùng đã lọt vào hoàng cung Đại Diên.”
Hạ Linh Xuyên không nhịn được xen vào: “Hóa ra chân tướng vẫn luôn được cất giấu ở nước ta, tại sao trong sử sách lại không thấy ghi chép?”
Các quốc gia đều lập Quốc Sử Phường để thu thập lịch sử nước mình và triều đại trước, đặc biệt là lịch sử tiền triều. Lịch sử bản quốc thường chỉ được viết lướt qua, nhưng lịch sử tiền triều lại được các học giả nghiên cứu sâu sắc nhất, từ những bí mật thâm cung cho đến nhân tình thế thái, nguyên do trong đó không cần nói nhiều ai cũng tự hiểu.
Hơn nữa, những thành quả nghiên cứu này rất được khuyến khích công bố rộng rãi trong dân gian. Đặc biệt là những câu chuyện trung liệt như thành Bàn Long hay Đại Phong Quân, đáng lẽ phải được dựng thành tấm gương điển hình để giáo hóa vạn dân, đạt được hiệu quả mưa dầm thấm đất.
Niên Tùng Ngọc cười bảo: “Bởi vì, không thể nói!”
“Khi đó, bản ghi chép đã rách nát tơi tả, không thể chắp vá được bao nhiêu câu chữ hoàn chỉnh, cũng không cách nào khôi phục toàn bộ diện mạo lịch sử. Thế nhưng, trong đó có ghi lại một việc vô cùng rõ ràng...”